Mô hình phát triển rừng gỗ lớn, tìm năng và khó khăn

Mô hình phát triển rừng gỗ lớn, tìm năng và khó khăn

Những đánh giá ban đầu về việc tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã đưa ra một số nhận định như, để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, việc chuyển từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đã được nhiều tỉnh đặt ra.



Hiện cả nước mới chỉ có 157.000 ha rừng gỗ lớn, chiếm 4,4% diện tích rừng cả nước. Con số này cho thấy, phát triển rừng gỗ lớn còn rất khiêm tốn. Đa số người trồng rừng đều ở trong tình trạng thiếu vốn nên phải bán non rừng. Trong khi đó, việc phát triển và quản lý giống trong nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Trong xu thế hội nhập hiện tại, khi thuế suất gỗ và lâm sản về 0%, thì các nước đều tăng cường việc thực thi luật lâm nghiệp bằng việc đòi hỏi cao về nguồn gốc gỗ và gỗ hợp pháp.

Bài toán về vốn !

Kinh tế rừng Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, Việt Nam chỉ có thể tiếp cận thị trường bằng việc giải bài toán trồng rừng lấy gỗ nguyên liệu. Thế nhưng với nhiều người trồng rừng, đó vẫn là việc vượt ngoài khả năng của họ.

Đã gắn bó với nghề trồng rừng hơn 30 năm, hiện nay gia đình ông Lê Tiến Phương, ở xã Thịnh Hưng, huyện yên Bình, tỉnh yên Bái đang có hơn 30 ha rừng keo 7 năm tuổi. Dù chưa đến thời điểm khai thác, nhưng điều kiện kinh tế ngặt nghèo khiến ông vẫn phải bán non hơn 4 ha rừng năm ngoái, vì không đủ vốn để chăm sóc cây.

Theo ông Phương, một rừng cây để khai thác phải trên 10 năm tuổi mới có giá trị cao, nhưng hiện tại, chỉ mới hơn 5 năm tuổi cây, ông đã phải khai thác, vì vốn khá eo hẹp và phải vay ngân hàng với lãi suất cao, cũng như thời hạn tương đối ngắn từ 1 đến 3 năm. Việc khai thác sớm để đảm bảo việc trả nợ ngân hàng và xoay vòng.

Theo thống kê của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh yên Bái, hiện có đến 80% chủ rừng trong tỉnh phải bán rừng non, dù biết rõ lợi ích kinh tế sẽ tăng gấp đôi nếu kéo dài đúng chu kì. Hơn 2 năm qua, chính quyền địa phương đã ban hành chủ trương chuyển đổi mô hình từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn, tuy nhiên kết quả cho đến nay tương đối thấp.

Theo ông Nguyễn Phúc Cương, Phó Giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn yên Bái, cái khó nhất là tập quán của người dân là chưa muốn chuyển đổi và người trồng rừng quen theo với chu kì từ 5 – 7 năm là khai thác để quay vòng nguồn vốn. mặt khác, nguồn tài chính và sức huy động trong dân chưa cao, thêm vào đó, trình độ và áp dụng khoa học kĩ thuật không cao.
Năm ngoái, sản lượng khai thác gỗ của yên Bái gỗ tương đối cao nhưng giá trị thấp, trung bình mỗi năm yên Bái khai thác từ 7 đến 8000 ha, sản lượng đạt từ 210.000-220.000 m3, bình quân đạt 50 m3/ha.

Theo ông Nguyễn Văn Đức, đầu ra của gỗ chủ yếu là sản phẩm gỗ ván trong nước, gỗ bóc và xẻ để xuất khẩu nên tương đối bị hạn chế, và giá trị chỉ khoảng 1,2 triệu đồng/m3. một con số không tương xứng với công sức và thời gian trồng rừng. Và mỗi năm, người trồng rừng chỉ thu được khoảng 10 triệu đồng/ha chưa trừ chi phí sản xuất như giống, phân bón hay khai thác. Và có lẽ càng nhiều rừng, người trồng rừng càng khó khăn hơn.

Cần nghiên cứu, phát triển mô hình

Để có thể duy trì việc trồng rừng, ông Phương đã phải nuôi trồng thủy sản để có thêm vốn liếng trồng gỗ lớn từ năm 2015. Nhưng những người có quyết tâm như ông lại rất ít và những khó khăn như thiếu vốn và giống lâm nghiệp không đảm bảo vẫn khiến ông phải đau đầu.

Xuất khẩu gỗ vẫn tăng qua từng năm, nhưng sự bền vững chưa cao, vì đơn giản, giá trị xuất khẩu hàng năm đều là mẫu mã và nguyên liệu của nước ngoài. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, ngay cả khi xuất khẩu gỗ tăng nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chưa bán trực tiếp cho các đối tác mà chỉ giao hàng ngay tại cảng nội địa và không biết sản phẩm của mình được đưa đến đâu, nên giá trị khá thấp. Chỉ khi nào các doanh nghiệp Việt Nam bán trực tiếp cho người nước ngoài mới có giá trị thật sự.
Các doanh nghiệp cần tận dụng các hiệp định FTA và TPP, cùng với đó phải tận dụng hết nguồn nguyên liệu trong nước, và nguồn cung trong nước phải đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu sản xuất và hạn chế nhập khẩu từ nước ngoài.

Ngoài ông Phương, hộ gia đình ông Phạm minh Khánh cũng đã triển khai rừng gỗ lớn với hi vọng sẽ nâng cao giá trị kinh tế, nhưng vẫn cần một cơ chế hỗ trợ hợp lý từ các cơ quan chức năng.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, mô hình trồng rừng gỗ lớn hiện chỉ chiếm hơn 1% là con số thấp, và bộ đang cùng các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình liên kết giữa các bên để đạt hiệu quả giữa việc cung cấp giống, gỗ nguyên liệu và xuất khẩu. 


Theo Tập Chí Gỗ Việt